Nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên. Nói một cách khác, phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất mà trong đó các quá trình sản xuất đều theo quy luật sinh học tự nhiên vốn có.
Nông nghiệp hữu cơ không chỉ đơn thuần là “nền nông nghiệp không có chất hóa học”, mà nó còn hội tụ đầy đủ các khía cạnh sinh thái, xã hội và kinh tế bền vững. Vì vậy nó là một dạng bền vững của nông nghiệp. Điều đó có nghĩa rằng, nông nghiệp hữu cơ là phƣơng thức duy trì sự cân bằng sinh thái trong hệ thống canh tác và sử dụng nguồn tài nguyên vốn có theo cách bền vững với một sự chú ý đặc biệt về khía cạnh kinh tế – xã hội của sản xuất. Tái tạo chu trình dinh dƣỡng, sử dụng tối ƣu nguồn tài nguyên sẵn có, đa dạng hóa là khía cạnh sinh thái quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Các mặt của kinh tế – xã hội nhƣ an toàn lƣơng thực, thƣơng mại công bằng, tăng cƣờng nguồn lực v.v… cũng là khía cạnh rất quan trọng của nông nghiệp hữu cơ.
Nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm riêng biệt sau (Haccius, 1996; Alsing, 1995):
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp theo đƣờng hƣớng của hệ thống sinh thái. Con ngƣời, đất đai, cây trồng và vật nuôi là các mặt trong một thể thống nhất, nó nhƣ là một thể hữu cơ.
- Ý tƣởng cơ bản của nông nghiệp hữu cơ là hoạt động kinh tế phải hài hòa với thiên nhiên. Vì nếu các hoạt động ấy nằm chệch hƣớng vận động của các quy luật tự nhiên thì sẽ tạo ra những hệ quả xấu và tất yếu phát triển sẽ không theo chiều bền vững.
- Sản xuất sẽ phát triển tốt trên cơ sở sử dụng và tăng cƣờng độ phì nhiêu tự nhiên của đất cũng nhƣ làm tăng sức đề kháng của cây trồng và vật nuôi đối với sâu bệnh. – Chăn nuôi là một hợp phần thích ứng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ.
- Hệ thống canh tác không bị ảnh hƣởng của việc sử dụng các nguyên liệu lạ ngoài nông trại nhƣ phân vô cơ dễ tan và thuốc hóa học bảo vệ thực vật.