Sáng nay trời Sài Gòn trở lạnh, cái nét sương mờ đục phía ngoài cánh cổng sắt lạnh tanh kia mỗi năm chỉ được thấy vài lần. Dắt cái xe ra ngoài, khép nhẹ cánh cổng cọt kẹt trong cái bản lề hen rĩ, chỉ cái tiếng ấy cũng đủ làm trời thêm se lạnh. Vẫn con đường cũ đó, nó chạy xe vút qua từng căn nhà, từng cánh cổng, từng góc đường quanh khu phố nhỏ. Căn nhà cuối phố vẫn mở cửa vắng lặng như thường thấy, cụ Sáu như thường lệ, vẫn ra ngồi ngoài chiếc bàn trà trong khúc sân vuông chật chội thị thành.
Bao nhiêu ngày nghỉ, nó vẫn hay thức dậy sớm rồi lội bộ tới đây để ngồi trà, café, thuốc rê với cụ. Ngoài 70 rồi, cái tuổi mà nhiều người đã vốn không còn minh mẫn nữa nhưng cụ Sáu thì lại mạnh khỏe lạ thường, nét mặt tươi cười móm mém vì bộ hàm theo thời gian trôi mất gần hết, mái tóc không còn một sợi đen lại càng điểm thêm cho vẻ ngoài hiền hậu của cụ. Cụ hay kể chuyện về thời trẻ, thời dân quê cụ còn trong vùng chiến sự, chắc ai tới tuổi này rồi cũng nặng nợ về ngày phía cũ. Con sông Vệ quê cụ năm đó mùa khô chưa có nước để gột đi dòng máu tươi của xác người nằm la liệt trước mắt một cảnh sát viên chưa từng một lần giết một con gà trong đời mình. Ông trầm ngâm trong làn hương café trộn với ly trà đang nghi ngút khói, “chiện đời nó vậy đó ku ròm (ông hay gọi nó vậy), tao có muốn làm cảnh sát mậy, nhưng mà bắt lính đâu sót tao, nhà tao có mỗi thằng đờn ông nên bỏ lại quê làm cảnh sát, mà tao có biết cảnh sát là cái gì đâu?”. Ông nhấp ngụm café sau khi phà ra làn khói thuốc rồi tiếp lời: “chớ mà oai lắm mậy, bọn Ngụy nó cấp cho tao chiếc 67, khẩu súng côn, đồ đạc, …rồi giao cho chạy vòng vòng cái trấn, hễ coi đâu không ưng mắt thì dẹp cho yên vậy thôi, luật lệ chi đâu, toàn dân quê như tao có chữ nghĩa mấy mà đưa luật như bậy giờ”, ông tiếp một hơi thuốc rồi lại cười luôn trong làn khói “nhờ đó mấy con nhỏ xưa chê tao nghèo, tao khờ lại mê tao gớm mậy, khà khà. Tao mà như tui trẻ như bây bây giờ không biết bà nào chửa con tao nữa.” nó cũng góp vô cho cụ thêm hưng phấn “tụi trẻ bây giờ nó sao ông? Con thấy tụi nó kỹ lắm, có thấy con nào có chửa đâu mà”. “mày che mắt lão già tao à, tụi bây bây giờ, cái gì cũng có, khách sạn, nhà nghỉ, thuốc men, bao bị tùm lum, để có bầu thì chỉ khi tụi bây muốn thôi. Thời của tao, mày kiếm đâu ra cái gọi là khách sạn, mà ở thị trấn như cái quê tao, mày lén phén con nào đêm nay có khi sáng mai cả cái chợ nó nghe tên hai đứa mày liền”. Nó phá lên cười “ông biết bao bị luôn hả ông Sáu? Thiệt tình, con tưởng ông chỉ biết café, thuốc rê thôi chớ, ông đó nha ông Sáu, con là con nghi lắm”. “nghi chi mày, bây giờ tụi bây cái gì cũng có, tao cũng phải tìm hiểu chớ không con cháu nó qua mặt tao sao?”. Nói đến đây rồi nét mặt ông lại như chùng xuống lại, cũng là cái chuyện con cháu mà sao nó cắn rứt ông Sáu cả đời chưa yên.
Ông có 4 người con, bác đầu thì bị bắn thời còn chiến tranh năm chưa tròn 18 tuổi, ba người con sau giờ ai cũng yên bề một vài đứa con, thành đạt kinh doanh nhiều người nhìn vô thấy ông thật sự là hãnh diện. Nhưng với ông Sáu, chuyện con trẻ thành công đúng là mừng thiệt, trước đây ông cũng tự hào lắm, khoe hoài thằng Ba làm gì, con Tư làm gì, con Út đi đâu…nhưng từ ngày bà mất, ông nhận ra thời gian cho mình cũng không còn nhiều nữa, nhưng con cháu thì lại không nhận ra là ông sẽ chẵng còn bao lâu. Căn nhà nhỏ này ông bà cũng cất công tích góp sau bao năm tù tội cải tạo mà thành, con ông cũng từ đây mà bước ra cuộc sống khác nên nó với ông bà như một quê hương, một cuộc đời gần trọn vẹn. “Mai này tao chết chẳng biết đứa nào chịu về giữ lại cái nền nhà này nữa Ròm ơi.” Ông rưng rưng “Tụi nó bây giờ xe hơi nhà lầu, con cái gửi đi Mỹ, Úc tứ tung, hết đứa này tới đứa khác muốn đưa tao về nhà tụi nó vậy mà tao không đặng lòng con à. Tao dân quê sống vầy tao quen rồi, chứ bắt tao nằm máy lạnh, ăn đồ hộp chắc tao chết sớm quá”. Nó ngồi nghe mà thấy cay cay lòng mắt, nín thinh không mở được lời nào. “Sáng ra có bình trà, ly café với vấn vài điểu thuốc rê ngồi đây mấy mươi năm rồi. Ngày xưa, bà mày cũng hay ngồi với tao vài chặp, nói chuyện thằng Ba, con Tư, thằng Tí, con Xu. Giờ này còn tao với con Vệ (con chó của hai ông bà nuôi được gần 8 năm nay) riết rồi quen”. Khuôn mặt chẳng chút biểu cảm của một ông già “thất thập cổ lai hi” như đánh mạnh vào cậu trai một suy nghĩ về cuộc đời con người, được, mất, sang giàu gì chắc chỉ những năm cuối đời mới biết được.
Mà cũng vì ông Sáu một mình mà lại thường uống café nên nó mới hay ghé qua. Một thằng trai ba mươi mà lại hay đi ngồi với một ông già bảy mươi chắc không nhiều. Ấy vậy mà nó không nhận ra điều lạ kỳ đó cho tới khi bị ông Sáu hỏi nó bộ mày không có gì để mê gì ở ông già này mà tối ngày ngồi với tao chi? Lo vợ con đi mày, Tam thập nhi lập con. Nó ậm ừ: “dạ cũng muốn lắm ông mà con sợ quá, giờ ra đường con như đàn ông cũ vậy, không có loai choai như đám trẻ được. Người chín chắn thì họ yên bề gia thất rồi, con lũ trẻ thì nó thấy con như thú lạ vậy đó ông Sáu ơi, hà hà”. “Thì cũng tại mày thôi, trai trẻ không lo chơi bời với chúng bạn, suốt ngày làm café, rồi chơi với ông già như tao, phải như con gái, cháu gái tao trạc tuổi chắc tao gả cho mày tao cũng không thấy lo” ông Sáu nhấn nhá. “Thôi Sáu ơi, con cũng tin vô cái duyên, chứ yêu đương chi mệt mỏi”. “Mày giá hơn tao rồi đó ròm!”.
Chuyện của nó với ông Sáu lúc nào cũng vậy, buồn vui gì cũng loanh quanh hoài bên ly café sáng. Mà đúng là thời gian chẳng đợi ai bao giờ, nó và ông gặp nhau đâu đó cũng được chục năm rồi, từ ngày nó còn là một thằng nhóc sinh viên ở trọ trong nhà ông cho tới bây giờ nó đi làm chán chê rồi nó lại ở gần nhà ông luôn. Kiểu cái duyên ấy nó chẳng biết thế nào giải thích được.
Lần đầu tiên nó ngồi với ông Sáu cũng là ngày thứ 2 nó trọ nhà ông, dãy phòng nhỏ xíu bên hông nhà mà ông bà đã bán đi để cho mấy người con ra làm ăn từ 5,7 năm trước đây. Cái làm nó ấn tượng về ông Sáu là cái đầu đạn còn nằm trong ống quyển của ông sau bao năm chiến tranh. Ông kể đó là lần đầu tiên ông hiểu thế nào là chiến tranh, năm đó bộ đội kéo về làng ông, trên mình là bộ quan phục cảnh sát nên ông không cách gì tránh được làn đạn mà may thay viên đầu tiên là nó găm vô chân ông rồi ông được bắt đi cải tạo. Sau bao năm cải tạo tốt ông được trả về thì chiến tranh đã không còn nữa, ông bà vun vén ra đi khi chế độ cũ không còn. Chính quyền mới coi ông bà như là những con người bội quốc, họ ngăn cấm đủ điều, không làm ăn được gì. Cũng nhờ đó mà ông bà mới có cơ hội cho các anh chị tiếp cận được một nguồn văn hóa mới trên cái đô thành này dù cũng trãi qua bao nhiêu sóng gió…
Cơn gió lạnh mùa đông đúng là cay nghiệt với người có tuổi, chí ít là với những người đơn thân như ông Sáu. Căn nhà ông vốn vắng vẻ bổng trở nên ồn ào đến lạ, xe cộ tấp nập đến đi, con cháu ông cũng tụ tập về từ mọi nơi xa xôi chỉ để nhìn ông lần cuối. Cạnh ông bây giờ là hàng chục người thân quen chỉ bước đến nghe ông dặn dò từng câu rồi lại bước ra. Nó cũng đến thăm ông tronh buổi chiều hôm ấy, ông vẫn bông đùa trong tiếng thở thều thào “sáng qua pha cho Sáu già ly café nghe Ròm”. Nó mỉm cười trong 2 dòng nước mắt từ đâu trôi ra nóng hai bên má “dạ, sáng mai con qua café với Sáu mà”. Khuya đó ông Sáu mất, nhưng nó vẫn giữ lời hứa với Sáu, nó vẫn đến pha café cho ông vào sáng hôm sau, ly café vẫn để trên chiếc bàn đá nhỏ nhắn ngoài khoảng sân vuông chật chội đó, mùi hương café len lõi trong làn khói nhang vụn vỡ, tan biến…













